Tổng quan về bệnh polyp đại trực tràng

Khi phát hiện ra polyp ở đại tràng hoặc trực tràng, người bệnh thường lo lắng liệu có bị ung thư đại trực tràng hay không? Polyp khi nào cần phải phẫu thuật? Hãy cùng tham khảo bài viết dưới đây để hiểu rõ hơn nguyên nhân và cách điều trị bệnh.

Bệnh polyp đại trực tràng là gì?

Một số loại polyp tuyến hay còn được gọi là adenomas có khả năng trở thành ung thư, trong khi những loại khác như polyp tăng sản hoặc viêm hầu như không có khả năng trở thành ung thư. Tuy nhiên cần lưu ý những điều như sau:

  • Polyp là phổ biến gặp ở 30-50% người lớn
  • Không phải tất cả những polyp sẽ trở thành ung thư
  • Phải mất rất nhiều năm để polyp trở thành ung thư
  • Polyp có thể được loại bỏ một cách hoàn toàn và an toàn

Ngoài ra cần biết về số lượng, loại, kích thước và vị trí của polyp. Những người đã được cắt bỏ polyp tuyến sẽ được yêu cầu phải kiểm tra theo dõi vì polyp mới có thể phát triển theo thời gian cũng cần phải được loại bỏ ngay.

Nguyên nhân polyp đại trực tràng

Polyp rất phổ biến thuộc mọi giới tính, chủng tộc, các yếu tố như chế độ ăn uống và môi trường cũng đóng vai trò nhất định trong việc hình thành polyp như :

  • Chế độ ăn nhiều chất béo
  • Chế độ ăn nhiều thịt đỏ
  • Chế độ ăn ít chất xơ
  • Hút thuốc lá
  • Béo phì

Sử dụng aspirin và các thuốc chống viêm không steroid khác hoặc chế độ ăn giàu canxi có thể giúp làm giảm nguy cơ bị ung thư đại trực tràng.

Ung thư đại trực tràng và polyp không phổ biến với độ tuổi trước tuổi 40. 90% các trường hợp xảy ra sau 50 tuổi, đối với nam giới hay gặp hơn phụ nữ, do đó, sàng lọc ung thư đại trực tràng thường được khuyến nghị bắt đầu ở tuổi 50 cho cả hai giới nam và nữ. Và phải mất khoảng 10 năm để một polyp nhỏ phát triển thành ung thư.

Polyp và ung thư đại trực tràng có xu hướng xuất hiện ở người trong gia đình, cho thấy các yếu tố di truyền đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển polyp. Nguyên tắc chung để sàng lọc ung thư đại trực tràng đó là nên bắt đầu ở độ tuổi sớm hơn ở những người đã có tiền sử gia đình mắc bệnh ung thư hoặc polyp.

Ngoài ra một số bệnh di truyền hiếm gặp có thể gây ra tỷ lệ cao mắc ung thư đại trực tràng ở lứa tuổi sớm hơn. Các xét nghiệm về gen có thể được khuyến nghị cho các gia đình có tỷ lệ ung thư cao

Các loại polyp đại trực tràng

Các loại polyp phổ biến nhất là polyp tăng sản và polyp tuyến. Các loại polyp khác cũng có thể được tìm thấy trong đại tràng, ít gặp hơn nhiều.

Polyp tăng sản – Polyp tăng sản thường nhỏ, nằm ở phần cuối của đại tràng (trực tràng và đại tràng sigma), không hề có khả năng trở thành ác tính và không đáng lo ngại. Không phải lúc nào cũng có thể phân biệt polyp tăng sản với polyp tuyến qua nội soi, thường phải dựa vào kết quả mô bệnh học sau khi cắt bỏ polyp

Polyp tuyến – Hai phần ba polyp đại tràng là polyp tuyến. Và hầu hết các polyp này không phát triển thành ung thư, mặc dù chúng nó có khả năng trở thành ung thư. Adenomas được phân loại theo kích thước, hình dạng chung và các đặc điểm cụ thể của chúng khi nhìn dưới kính hiển vi. Nhìn chung kích thước của polyp tuyến càng lớn thì sẽ có khả năng trở thành ung thư càng cao. Do đó, các polyp lớn hơn 5mm nên được loại bỏ hoàn toàn để ngăn ngừa sự phát triển thành ung thư và nên được kiểm tra dưới kính hiển vi xác định chắc chắn

Polyp ác tính – Là định nghĩa polyp chứa tế bào ung thư. Việc điều trị tối ưu cho polyp ác tính cần phụ thuộc rất nhiều vào mức độ ung thư khi được kiểm tra bằng kính hiển vi và các yếu tố cá nhân khác nữa.

Chẩn đoán Polyp đại trực tràng

Polyp thường không gây ra triệu chứng nhưng có thể được phát hiện ra khi kiểm tra sàng lọc ung thư (chẳng hạn như nội soi đại tràng đại tràng), hoặc sau khi xét nghiệm sàng lọc tìm máu có trong phân.

Nội soi đại tràng là cách tốt nhất để đánh giá đại tràng vì nó cho phép bác sĩ có thể nhìn thấy toàn bộ niêm mạc đại tràng và loại bỏ hầu hết các polyp được tìm thấy trong đó.

Mặt trong của đại tràng có cấu trúc giống như ống, bề mặt phẳng với các nếp gấp cong. Một polyp xuất hiện dưới dạng một khối nhô vào bên trong lòng đại tràng. Các mô bao phủ một polyp có thể trông giống như mô đại tràng bình thường, hoặc cũng có thể có những thay đổi mô về màu sắc hay loét và chảy máu. Một số polyp phẳng và một số khác nữa có cuống.

Nội soi đại tràng ống mềm là xét nghiệm tốt nhất hiện nay để kiểm tra polyp. Nội soi ảo sử dụng công nghệ chụp cắt lớp điện toán cũng là một cách để phát hiện polyp.

Cắt bỏ polyp

Ung thư đại trực tràng có thể phòng ngừa được nếu polyp tiền ung thư (tức là u tuyến) được phát hiện và loại bỏ trước khi chúng trở thành ác tính (ung thư). Theo thời gian, các polyp nhỏ có thể thay đổi cấu trúc của chúng và trở thành ung thư. Polyp thường được loại bỏ khi chúng được tìm thấy trên nội soi, giúp loại bỏ cơ hội cho polyp đó trở thành tế bào ung thư.

Cắt bỏ polyp không gây đau đớn vì niêm mạc đại tràng không có khả năng cảm thấy đau đớn.

Biến chứng cắt polyp là an toàn mặc dù nó có một vài rủi ro và những biến chứng tiềm ẩn. Các biến chứng phổ biến nhất là chảy máu và thủng (tạo ra một lỗ trên bề mặt đại tràng). Chảy máu có thể được kiểm soát nếu xảy ra trong khi nội soi bằng cách áp nhiệt (đốt điện) vào các vị trí chảy máu; phẫu thuật đôi khi sẽ được chỉ định nếu bị thủng ruột.

Xem thêm: nội soi gan

Phòng ngừa ung thư đại trực tràng

Nội soi theo dõi – Những người có polyp tuyến có nguy cơ phát triển thành tế bào ung thư. Và khoảng 25 – 30% các trường hợp đó sẽ lại xuất hiện trên nội soi đại tràng ba năm sau khi phẫu thuật cắt polyp ban đầu. Một số polyp này có thể đã xuất hiện trong lần kiểm tra ban đầu, nhưng quá nhỏ để phát hiện. Các polyp mới khác cũng có thể đã phát triển dần.

Sau khi polyp được loại bỏ, nội soi đại tràng được lặp lại được khuyến nghị, thường là một đến năm năm sau khi nội soi ban đầu. Tuy nhiên, khoảng thời gian này phụ thuộc vào một số yếu tố như:

  • Đặc điểm vi mô của polyp.
  • Số lượng và kích thước của polyp.

Những người trải qua sàng lọc thường xuyên ung thư đại trực tràng ít khi có khả năng tử vong vì loại ung thư này. Vì vậy, làm theo hướng dẫn sàng lọc là rất quan trọng trong việc ngăn ngừa bị ung thư ruột.

Các biện pháp về lối sống cũng quan trọng không kém, ví dụ như:

  • Ăn chế độ ăn ít chất béo và nhiều trái cây, rau và chất xơ hơn
  • Luôn duy trì trọng lượng cơ thể bình thường
  • Tránh hút thuốc và sử dụng rượu bia quá mức

Đối với các thành viên khác trong gia đình

  • Người thân cấp độ một (cha mẹ, anh, chị, em ruột) của người được chẩn đoán mắc

bệnh polyp tuyến hoặc ung thư đại trực tràng trước 60 tuổi rất có nguy cơ phát triển polyp tuyến và ung thư đại trực tràng cao hơn so với mặt bằng dân số chung. Vì vậy, gia đình người bệnh cũng nên được biết thông tin này. Mặc dù sàng lọc polyp và ung thư được khuyến nghị cho mọi người chủ yếu thường bắt đầu ở tuổi 50, những người có nguy cơ cao nên bắt đầu thực hiện sàng lọc sớm hơn.

  • Những người có một người thân cấp độ một (cha mẹ ruột, anh trai, em gái hoặc con

ruột) bị ung thư đại trực tràng hoặc một polyp tuyến ở tuổi trẻ (chủ yếu trước 60 tuổi) hoặc hai người thân cấp độ một có thể được chẩn đoán ở mọi lứa tuổi, nên phải bắt đầu sàng lọc ung thư ruột kết sớm hơn, điển hình là ở tuổi 40 hoặc trẻ hơn 10 tuổi so với độ tuổi chẩn đoán sớm nhất trong gia đình họ. Sàng lọc tốt nhất bằng nội soi ống mềm, cần được lặp lại 5 năm/ lần thì sẽ tốt hơn.

  • Những người có người thân cấp độ hai (ông bà, dì hoặc chú) hoặc người thân cấp

độ ba (ông bà hoặc anh em họ) bị ung thư đại trực tràng cần được làm sàng lọc ung thư ruột kết tương tự như người có nguy cơ trung bình.

Xem thêm: nội soi túi mật

 

Loading Facebook Comments ...